Lớp 10

Soạn bài Đại cáo bình Ngô

Nguyễn Trãi là một tác giả lớn trong nền văn học trung đại Việt Nam. Chính vì vậy, trong chương trình Ngữ văn lớp 10, học sinh sẽ được tìm hiểu về tác giả này cũng như nội dung của “Đại cáo bình Ngô” – một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông.

THPT Nguyễn Đình Chiểu sẽ giới thiệu tài liệu Soạn văn 10: Đại cáo bình Ngô (Phần một: Tác giả Nguyễn Trãi), hy vọng sẽ cung cấp thêm kiến thức hữu ích cho học sinh.

Bạn đang xem: Soạn bài Đại cáo bình Ngô

Soạn văn Đại cáo bình Ngô

I. Tác giả Nguyễn Trãi

1. Cuộc đời

– Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu là Ức Trai.

– Quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương).

– Thân sinh là Nguyễn Ứng Long (sau đổi là Nguyễn Phi Khanh) – một nho sinh nghèo, học giỏi và đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) vào thời Trần. Thân mẫu là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán.

– Thuở thiếu thời, Nguyễn Trãi phải chịu nhiều mất mát đau thương: mất mẹ khi mới năm tuổi, ông ngoại qua đời khi mười tuổi.

– Năm 1400, ông thi đỗ Thái học sinh, làm quan dưới triều nhà Hồ.

– Năm 1407, giặc Minh xâm lược, Nguyễn Phi Khanh bị bắt sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi ghi nhớ lời cha để trả nợ nước, thù nhà.

– Sau khi thoát khỏi sự giam lỏng của giặc Minh, ông tìm đến nghĩa quân Lam Sơn, theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa, góp phần to lớn vào sự thắng lợi của nghĩa quân.

– Ông là một nhà quân sự, chính trị lớn của dân tộc Việt Nam. Đồng thời cũng là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc.

– Ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với vai trò quan trọng bên cạnh Lê Lợi, giúp Lê Lợi đánh bại nghĩa quân xâm lược.

– Nhưng đến cuối cùng, cuộc đời ông phải kết thúc đầy bi thảm vào năm 1442 với vụ án nổi tiếng “Lệ Chi Viên”.

– Năm 1980, UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc) công nhận Nguyễn Trãi là Danh nhân văn hóa thế giới.

2. Sự nghiệp

– Nguyễn Trãi là một nhà văn chính luận kiệt xuất với các tác phẩm: Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, chiếu biểu viết dưới thời Lê… Tư tưởng chủ đạo trong các tác phẩm này là tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân.

– Nguyễn Trãi là một nhà thơ trữ tình sâu sắc: Ức trai thi tập, Quốc âm thi tập đã ghi lại hình ảnh người anh hùng vĩ đại cũng vừa là con người trần thế.

II. Tác phẩm Đại cáo bình Ngô

1. Thể loại

– Cáo là thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả của một sự nghiệp để mọi người cùng biết.

– Cáo phần nhiều được viết bằng văn biên ngẫu (không hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai về đối nhau)

– Cáo là thể văn có tính chất hùng biện, lời lẽ đanh thép, lí luận sắc đáng.

– Bài đại cáo trên được viết theo lối văn biền ngẫu, có vận dụng thể tứ lục (từng cặp câu, mỗi câu 10 chữ ngắt nhịp 4/6).

2. Hoàn cảnh sáng tác

– “Bình Ngô đại cáo” do Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Thái Tổ (Lê Lợi) soạn thảo sau khi đánh thắng quân Minh, được công bố ngày 17 tháng chạp năm Đinh Mùi (1428).

– Bài cáo được coi như một bản Tuyên ngôn độc lập của đất nước ta lúc bấy giờ.

– Đoạn trích “Nước Đại Việt ta” được trích trong Bình Ngô đại cáo do Bùi Văn Nguyên dịch dựa theo bản dịch của Bùi Kỷ. Nhan đề đoạn trích do người biên soạn đặt tên.

3. Bố cục

Gồm 4 phần: 

  • Phần 1: Từ đầu đến “Chứng cớ còn ghi”. Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa của dân tộc Đại Việt.
  • Phần 2: Tiếp theo đến “Trời đất chẳng dung tha”. Tố cáo tội ác của quân Minh.
  • Phần 3: Tiếp theo đến “Cũng là chưa thấy xưa nay”. Kể lại khái quát diễn biến cuộc khởi nghĩa.
  • Phần 4. Còn lại. Lời tuyên bố độc lập.

III. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Vì sao có thể nói Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử vĩ đại?

Gợi ý

Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử vĩ đại vì:

– Xuất thân: Thân sinh là Nguyễn Ứng Long (sau đổi là Nguyễn Phi Khanh) – một nho sinh nghèo, học giỏi và đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) vào thời Trần. Thân mẫu là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán.

– Cuộc đời gắn với số phận của dân tộc: Tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, là quân sư cho Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, có nhiều cống hiến đối với sự phát triển của đất nước…

Câu 2. Anh chị đã đọc những tác phẩm bào của Nguyễn Trãi? Hãy giới thiệu sơ lược về một vài tác phẩm tiêu biểu.

Gợi ý:

– Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca): Tác phẩm được cho rằng được sáng tác trong khoảng thời gian ông bị chèn ép ở triều đình, phải cáo quan về quê sống ở Côn Sơn. Bài thơ cho thấy sự khung cảnh thiên nhiên ở Côn Sơn nên thơ hấp dẫn cũng như sự giao hòa giữa con người với thiên nhiên được bắt nguồn từ tâm hồn thi sĩ của Nguyễn Trãi.

– Cảnh ngày hè: Bài thơ “Cảnh ngày hè” là bài số 43 trong số 61 bài thơ của mục “Bảo kính cảnh giới” (thuộc phần “Vô đề” của tập thơ “Quốc âm thi tập”).

Câu 3. Phân tích vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua một số câu thơ mà anh (chị) cảm nhận sâu sắc nhất.

Gợi ý: Cảm nhận qua bài thơ “Cảnh ngày hè”.

Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà quân sự tài ba. Mà ông còn là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Đến với bài thơ “Cảnh ngày hè”, người đọc sẽ cảm nhận được vẻ đẹp trong tâm hồn của nhà thơ.

Trước hết, đó là vẻ đẹp của tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống trong cảnh ngày hè. Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh nhà thơ Nguyễn Trãi đang ngồi dưới bóng cây nhàn nhã, giống như đang hóng mát thật sự: “Rồi hóng mát thuở ngày trường”. Việc quân, việc nước chắc đã xong xuôi ông mới trở về với cuộc sống đơn sơ, giản dị, mộc mạc mà chan hòa, gần gũi với thiên nhiên. “Rồi” là rảnh rỗi, sự việc còn đều xong xuôi, đã qua rồi. Còn “ngày trường” là ngày dài. Cả câu thơ không còn đơn giản là hình ảnh của Nguyễn Trãi ngồi hóng mát mà nó lại toát lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả nhàn rỗi ta hóng mát cả một ngày dài. Một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng, ý chí của tác giả đã bị vùi lấp, không còn gì nữa, ông đành phải rời bỏ, từ quan để về ở ẩn, phải dành “hóng mát” cả ngày trường để vơi đi một tâm sự, một gánh nặng đang đè lên vai mình. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa. Sống hòa mình trong thiên nhiên nên Nguyễn Trãi đã tinh tế phát hiện ra những vẻ đẹp thuần khiết mà nơi chốn triều đình, cung cấm đầy rẫy thị phi không thể xuất hiện được. Đó là:

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

Chỉ vài nét bút phác họa mà bức tranh quê đã hiện lên tươi khỏe, hài hoà. Cây trước sân, cây trong ao đều ở trạng thái tràn đầy sức sống, đua nhau vươn lên khoe sắc, tỏa hương. Cây hòe với tán lá xanh um xoè rộng, trong khi cây lựu nở đầy những bông hoa đỏ thắm và sen hồng đã nức mùi hương. Sức sống trong cây đang đùn đùn dâng lên cành, lên lá, lên hoa. Cây tỏa bóng rợp xuống mặt sân, tỏa luôn bóng mát vào hồn thi sĩ. Các từ “đùn đùn” (dồn dập tuôn ra), “giương” (tỏa rộng ra), “phun, tiễn” (ngát, nức) gợi tả sức sống căng đầy chất chứa bên trong sự vật, tạo nên những hình ảnh mới lạ, ấn tượng. Ở đây ta bắt gặp cảnh sắc thiên nhiên căng tràn sức sống cho thấy rằng lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời của nhà thơ rất mãnh liệt, đồng thời còn có ham muốn được cống hiến công sức của mình cho đời này thêm đẹp. Đời người anh hùng cũng đã vơi nhưng giống như hàng tùng bách dày dạn tuyết sương nên sức sống vẫn chảy mạnh trong huyết quản. “Thức đỏ” (màu đỏ) của hoa lựu phải chăng là thức đỏ của tấm lòng sắt son với dân với nước? Mùi hương thơm ngát của sen có phải là lý tưởng chẳng bao giờ phai nhạt của Nguyễn Trãi suốt đời phấn đấu vì đất nước thanh bình, vì nhân dân hạnh phúc?

Nếu bốn câu thơ trên Nguyễn Trãi miêu tả cảnh vật đang căng tràn nhựa sống thì hai câu thơ tiếp theo là chuỗi âm thanh thanh bình chốn thôn quê cùng hình ảnh con người xuất hiện:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

Từ tượng thanh “lao xao” đặt trước hình ảnh chợ cá làm nổi bật không khí nhộn nhịp của làng ngư phủ. “Lao xao” – tiếng trao qua đổi lại, ồn ã tiếng nói tiếng cười. Tất cả đều là hơi hướng của cuộc sống lao động cần cù, chân chất. Những âm thanh lao xao ấy hòa vào tiếng ve kêu dắng dỏi bất thần nổi lên trong chiều tà, báo hiệu chấm dứt một ngày hè nơi thôn dã. Tiếng ve lúc chiều tà thường gợi buồn, nhưng với nhà thợ lúc này, nó trở thành tiếng đàn rộn rã khiến tâm trạng nhà thơ cũng náo nức hẳn lên.

Tiếp đến, đó còn là vẻ đẹp của một tâm hồn với lòng yêu nước, thương dân sâu sắc:

“Dễ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”

Nguyễn Trãi đã trực tiếp bộc lộ nỗi lòng mình trong hai câu thơ kết. Đó là giấc mơ – giấc mơ Nghiêu Thuấn. Giấc mơ ngàn đời của những con người Phương Đông sống trong thời trung đại. Nhà thơ khát khao đất nước tìm được một bậc minh quân để cuộc sống của nhân dân được ấm no, hạnh phúc và không phải chịu cảnh lầm than, cơ cực.

Như vậy, khi đọc “Cảnh ngày hè”, người đọc không chỉ cảm nhận được bức tranh thiên nhiên, cuộc sống trong cảnh ngày hè. Mà điều nổi bật hơn cả đó chính là vẻ đẹp trong tâm hồn của nhà thơ Nguyễn Trãi.

Câu 4. Nêu khái quát những giá trị cơ bản về giá trị nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Trãi.

– Giá trị nội dung: cảm hứng nhân đạo và cảm hứng yêu nước

– Giá trị nghệ thuật: văn chính luận đạt đến trình độ nghệ thuật mẫu mực từ việc xác định đối tượng, mục đích sử dụng bút pháp thích hợp đến kết cấu chặt chẽ; những vần thơ giàu cảm xúc với hình ảnh mang giản dị, gần gũi…

Đăng bởi: THPT Nguyễn Đình Chiểu

Chuyên mục: Tài Liệu Lớp 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!