Lớp 10

Phân tích cảm hứng nhân đạo trong Truyện Kiều (5 mẫu)

Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm kinh điển trong nền văn học của Việt Nam, không chỉ phản ánh hiện thực về số phận của người phụ nữ hồng nhan những bạc phận, mà đây còn có một giá trị nhân đạo rất cao.

Dưới đây sẽ là một số bài văn mẫu lớp 10: Phân tích cảm hứng nhân đạo trong Truyện Kiều, đây là tài liệu vô cùng hữu ích giúp cho các bạn có thể bổ sung thêm nhiều kiến thức Ngữ văn lớp 10. Sau đây, xin mời tất cả các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Bạn đang xem: Phân tích cảm hứng nhân đạo trong Truyện Kiều (5 mẫu)

Phân tích cảm hứng nhân đạo trong Truyện Kiều – Mẫu 1

Một tác phẩm văn học trường tồn cùng thời gian không chỉ bởi tài hoa của người nghệ sĩ mà còn vì cảm hứng nhân đạo đã làm cho tác phẩm có sức lay động lòng người và được truyền tụng từ đời này sang đời khác. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một tác phẩm như vậy.

Cảm hứng nhân đạo xuất phát từ tình yêu thương con người với con người. Một tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo khi nó ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người, đồng tình với khát vọng chính đáng của họ đồng thời là sự đồng cảm xót thương những số phận kém may mắn, bị chà đạp, cưỡng bức. Tác phẩm mang cảm hứng hứng nhân đạo còn phải là một bản án tố cáo những thế lực thù địch, xã hội bất công giày xéo nhân phẩm con người.

Nguyễn Du coi trọng tài sắc của Thúy Kiều

“Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”

Nên khi Kiều bán mình chuộc cha, phải trao duyên cho em, nhờ em thay mình trả nghĩa chàng Kim, Nguyễn Du càng thấu tỏ bi kịch cuộc đời nàng. Mười lăm năm tha hương là mười lăm năm đoạn trường đầy gian truân của Thúy Kiều. Càng thương Kiều, Nguyễn Du càng yêu quý phẩm chất thanh cao, trong sạch của nàng. Ông đau xót cho một con người hồng nhan bạc mệnh:

“Đã cho lấy chữ hồng nhan
Làm cho cho hại cho tàn cho cân
Đã đày vào kiếp phong trần
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi”

Dường như chính Nguyễn Du đã nhập thân để hiểu tận cùng nỗi đau của Thúy Kiều và bất bình thay cho nàng. Nguyễn Du cũng coi mình như nàng Thúy Kiều, cùng mang những nỗi oan sai nghiệt ngã do xã hội đọa đày, cùng khao khát có một người tri âm tri kỷ để dốc bầu tâm sự:

“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng)

(Độc Tiểu Thanh ký)

Trong suốt thiên “Truyện Kiều”, Nguyễn Du luôn đặt câu hỏi tìm đâu là nguyên nhân của những đau khổ tột cùng của con người. Nhưng thực tế, bản thân ông biết, xã hội bất công, ma lực đồng tiền đã đẩy những con người tài sắc như Kiều vào chốn bùn nhơ, cuộc sống bi kịch. Hiểu thấu được nguyên nhân, nhưng chính ông cũng không thể xoay chuyển thế sự. Bởi chính ông cũng đang bị thời thế rối ren, lũng đoạn đày ải.

Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Tấm lòng nhân đạo của ông xuất phát từ chính trái tim của người nghệ sĩ. Tiếng lòng của ông là nỗi lòng chung của nhiều số phận đang bị áp bức trong xã hội đương thời.

Phân tích cảm hứng nhân đạo trong Truyện Kiều – Mẫu 2

Nếu như cảm hứng nhân bản nghiêng về đồng cảm với những khát vọng rất người của con người, cảm hứng nhân văn thiên về ngợi ca vẻ đẹp của con người thì cảm hứng nhân đạo là cảm hứng bao trùm.

Cốt lõi của cảm hứng nhân đạo là lòng thương. Bản chất của nó là chữ tâm đối với con người. Một tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo khi nó ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người, không những thế phải đồng cảm xót thương những số phận bị chà đạp, lên án tố cáo những thế lực thù địch, đồng thời phải biết đồng tình với khát vọng và ước mơ chính đáng của con người.

Nguyễn Du yêu thương con người đến tận cùng, vì vậy các tác phẩm của ông cũng nhân đạo đến tận cùng. Chỉ qua ba đoạn trích Truyện Kiều và bài thơ Độc Tiểu Thanh kí, người đọc cũng hiểu được phần nào tấm lòng nhân đạo của thi hào Nguyễn Du.

Cảm thương cho những kiếp hồng nhan mà đa truân, tài tử mà đa cùng không phải là cảm hứng mới mẻ trong văn học, nhưng phải đến Nguyễn Du, người đọc mới thực sự đau lòng vì “những điều trông thấy” bởi Nguyễn Du viết về nỗi đau của người khác như nỗi đau của chính mình. Sắc đẹp khuynh thành và tài năng hiếm có của Thúy Kiều đã được Nguyễn Du đặc tả trong hai câu thơ:

“Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”

(Truyện Kiều)

Còn Tiểu Thanh, một con người có thật sống cách Nguyễn Du 300 năm ở Trung Quốc cũng là một người con gái đẹp, có tài thơ, còn để lại tập di cảo Tiểu Thanh ký. Truyện kể lại rằng trước khi chết, Tiểu Thanh đã khóc vì nhìn bức chân dung của mình và nhận ra mình đẹp. Đau đớn biết bao nhiêu khi một người con gái còn rất trẻ khi sắp chết lại thấy mình đẹp. Thế nhưng chính Nguyễn Du lại thấm thía hơn ai hết rằng: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, rằng: “Có tài mà cậy chi tài – Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Cuộc đời Thúy Kiều và Tiểu Thanh chính là minh chứng và cũng là nạn nhân của những bất công, phi lý của cuộc đời.

Thúy Kiều tài sắc như vậy nên người nàng yêu cũng phải là một văn nhân “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Hai người đã thề nguyền “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai” và có vầng trăng trên trời làm chứng. Nhưng rồi tai họa ập đến với gia đình khiến Thúy Kiều đành phải hy sinh chữ tình vì chữ hiếu. Việc Kiều bán mình chuộc cha không phải vì nàng hành động theo đạo lý tam cương của Nho gia mà đó là đạo hiếu của kẻ làm con: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nhưng chỉ Nguyễn Du mới hiểu đến tận cùng bi kịch của Thúy Kiều khi phải trao duyên cho em, nhờ em thay mình trả nghĩa chàng Kim. Nàng giờ sống mà như đã chết. Biết bao đau đớn khi Kiều nhận mình là kẻ phụ bạc:

“Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

(Truyện Kiều)

Màn trao duyên ấy chính là bi kịch đầu tiên mở ra quãng đời 15 năm “oan khổ lưu ly” của Thúy Kiều. Cuộc sống “êm đềm trướng rủ màn che” ngày xưa giờ đã thay bằng cuộc sống “Dập dìu lá gió cành chim – Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”. Thúy Kiều không tìm thấy chút vui thú nào trong cuộc sống “bướm lả ong lơi” ấy, mà tâm trạng thực của nàng là vui gượng, là sầu, buồn, cuối cùng đọng lại ở nỗi đau, một nỗi đau luôn dày vò, không thể giải tỏa. Có nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng cái “giật mình mình lại thương mình xót xa” của cô Kiều mới đáng quý biết chừng nào. Nếu không có những phút “giật mình” ấy thì nàng Kiều cũng tầm thường như một cô gái làng chơi mất hết nhân phẩm. Cái “giật mình” ấy chứng tỏ Thúy Kiều đã đau đớn biết bao nhiêu khi nhân phẩm bị nhơ bẩn, “Mặt sao dày gió dạn sương – Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”. Nàng phẫn uất, đay nghiến thực trạng phũ phàng, cuộc sống bị cầm tù trong một vòng tròn luẩn quẩn không lối thoát:

“Đã cho lấy chữ hồng nhan
Làm cho cho hại, cho tàn cho cân
Đã đày vào kiếp phong trần
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi”

Người đọc dường như không phân biệt được đâu là lời của nhân vật, đâu là lời của nhà thơ vì Nguyễn Du đã nhập thân để hiểu tận cùng nỗi đau của Thúy Kiều và bất bình thay cho nàng. Thúc Sinh xuất hiện trong cuộc đời Kiều không phải chỉ như một khách làng chơi mà còn như một người tình, một người chồng, một ân nhân. Chính Thúc Sinh đã chuộc nàng ra khỏi xanh và cưới nàng làm vợ lẽ. Nhưng mối duyên này ngắn ngủi. Thúc Sinh phải về quê báo tin “vườn cũ thêm hoa” với vợ cả là Hoạn Thư. Cảnh từ biệt của hai người không chỉ có buồn, có lưu luyến như các cuộc chia ly thông thường khác mà còn có dự cảm về một cuộc chia tay vĩnh viễn:

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

Những nỗi đoạn trường cứ bám lấy cuộc đời Thúy Kiều như một định mệnh, không cho nàng được sống thanh thản, vui vẻ, dù là ngắn ngủi.

Tiểu Thanh cũng vậy. Nàng tài sắc là thế mà phải làm lẽ, sống trong sự dày vò của người vợ cả độc ác. Tiểu Thanh không giống Thúy Kiều, 16 tuổi đã phải dấn thân vào kiếp đoạn trường, nhưng cảnh sống bị cầm tù ở núi Cô Sơn, ngày ngày lo sợ bị người vợ cả hãm hại thì có khác gì cái chết. Một cái chết dần dần, mòn mỏi, và không kém phần đau đớn. Sau 300 năm chỉ có Nguyễn Du lặng lẽ viếng nàng bên khung cửa qua tập di cảo còn sót lại. Cảnh đẹp Tây Hồ cũng chịu số phận truân chuyên của giai nhân:

“Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn”

(Độc Tiểu Thanh ký)

Nguyễn Du xót thương cho số phận của “văn chương”, của “son phấn” cũng bị liên lụy vào nỗi đoạn trường bởi chúng mang cái mệnh của con người:

“Chi phấn hữu thần liên tử hận
Văn chương vô mệnh lụy phần dư”

(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)

(Độc Tiểu Thanh ký)

Vẫn biết rằng “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” nhưng đó vẫn là “nỗi hờn kim cổ” mà Nguyễn Du muốn chất vấn trời cao, hay chất vấn cuộc đời, xong rốt cuộc vẫn không có lời giải đáp. Chỉ biết rằng đó là “phong vận kỳ oan” (nỗi oan lạ lùng) của những kẻ mang nết phong nhã. Hồng nhan đa truân, tài tử đa cùng là cái án tiền định của những người như Thúy Kiều, Tiểu Thanh phải mang. Tiếng khóc của nàng Kiều trước mộ Đạm Tiên cũng chính là tiếng khóc của nàng cho chính mình mai sau và là tiếng khóc cho những phận đàn bà nói chung:

“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

(Truyện Kiều)

Rốt cuộc thì Đạm Tiên, Thúy Kiều hay Tiểu Thanh dù số phận có nhiều điểm khác nhau thì cũng là “cùng một lứa bên trời lận đận”. Nguyễn Du cũng tự coi mình là người cùng hội cùng thuyền với những người mắc nỗi oan lạ lùng vì vết phong nhã. Tố Như đau cho số phận của Tiểu Thanh cũng là tự thương cho chính những lận đận của mình, bởi vậy mới khao khát tri kỷ:

“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng)

(Độc Tiểu Thanh ký)

“Khấp” có nghĩa là khóc thầm, còn “khóc” là khóc lớn, khóc thành tiếng. Nguyễn Du cả đời khóc thương cho những bất hạnh của con người nhưng cuối cùng cũng chỉ mong được người đời sau khóc thầm. Đó là khao khát tri âm khiêm nhường của một con người rất hiểu đời.

Đọc “Truyện Kiều” và “Độc Tiểu Thanh kí”, Nguyễn Du luôn hỏi trời về những đau khổ của con người nhưng thực tế trong tác phẩm, Nguyễn Du lại cho thấy nguyên nhân nhưng đau khổ của con người là do những thế lực thù địch chà đạp lên cuộc sống và quyền sống chính đáng của con người. Nếu không có chế độ phong kiến với sự thống trị của đồng tiền thì Kiều đâu có 15 năm lênh đênh trong bể đoạn trường, nếu không có chế độ đa thê thì Tiểu Thanh chắc cũng không có số phận bi kịch như thế. Nguyễn Du đau nỗi đau của con người, hiểu thấu được nguyên nhân của những bi kịch ấy nhưng Nguyễn Du bất lực bởi chính ông cũng là nạn nhân của những bể dâu cuộc đời. Nỗi đau của Nguyễn Du, sự cô đơn của Nguyễn Du, tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đều xuất phát từ một trái tim nghệ sĩ lớn.

Phân tích cảm hứng nhân đạo trong Truyện Kiều – Mẫu 3

Nếu như cảm hứng hiện thực trong Truyện Kiều của Nguyễn Du khiến người đọc nhận ra được xã hội phong kiến suy tàn, thối nát, con người bị chà đạp cả thể xác và tinh thần thì cảm hứng nhân đạo gieo vào lòng người đọc niềm xót thương vô hạn. Cảm hứng nhân đạo của Truyện Kiều là cảm hứng xuyên suốt từng nhân vật, từng câu chữ, ngấm vào tim của tác giả và của người đọc.

Có thể nói chính cảm hứng nhân đạo trong Truyện Kiều đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những người yêu truyện Kiều và thương cho số phận hồng nhan tài hoa bạc mệnh. Trước hết chúng ta có thể thấy được cảm hứng nhân đạo mà Nguyễn Du gửi gắm qua tác phẩm xuất phát từ hiện thực nhiều cay nghiệt, oan trái trong xã hội phong kiến bấy giờ.

Là một người tràn đầy tình yêu và lòng trắc ẩn đối với những phận người tài hoa nhưng nổi trôi trong xã hội như Thúy Kiều; Nguyễn Du bằng trái tim, bằng nước mắt khắc họa thành công nhân vật Thúy Kiều. Kỳ thực Thúy Kiều không phải được dựng lên bằng ngôn ngữ tài hoa bậc thầy của Nguyễn Du mà được tạo nên từ chính tình cảm yêu thương mãnh liệt của ông.

Tinh thần nhân đạo chạy dọc suốt hơn 3000 câu thơ, từ nhân phẩm, tính cách của nhân vật đến những cơ cực mà họ mang đến khát khao vươn tới hạnh phúc. Đó đều là những giá trị đáng trân trọng của một con người. Thúy Kiều vì gia đình sa cơ lỡ bước mà cuộc đời cô phải trải qua 15 năm lưu lạc. Hẳn người đọc còn nhớ đến gia cảnh của Nguyễn Du, ông cũng đã từng trải qua 15 năm lưu lạc ở quê vợ với cuộc sống cùng cực. Có thể nói cảm hứng của truyện Kiều chính là từ cuộc đời của Nguyễn Du. Thấu hiểu được nỗi khổ của cảnh sống trôi nổi Nguyễn Du đã thổi hồn, thổi chữ tâm vào nhân vật Thúy Kiều.

Thúy Kiều đã trải qua bao nhiêu sóng gió, qua tay bao nhiêu kẻ, chịu nhiều nỗi nhục nhã, ê chề nhưng nàng vẫn kiên cường, mạnh mẽ chống chọi tất cả. Hơn hết Thúy Kiều vượt lên số phận, luôn khát khao yêu thương, khát khao hạnh phúc, khát khao được đoàn tụ. Đây đều là những khát vọng bình dị nhưng lại vô cùng lớn lao đối với số kiếp tài hoa bạc mệnh như Thúy Kiều.

Nỗi cay đắng, cùng cực mà Thúy Kiều mang nặng suốt 15 năm chính là số mệnh mà cô phải hứng chịu. Người con gái ấy mạnh mẽ bao nhiêu thì càng bị vùi dập bấy nhiêu. Thực sự người đọc rơi nước mắt trước cảnh một người con gái tuyệt sắc giai nhân nhưng bị chà đạp cả thể xác và nhân phẩm.

Thúy Kiều rơi vào cảnh này cũng xuất phát từ tấm lòng hiếu thảo với mẹ cha, nàng lựa chọn chữ “hiếu” thay vì chữ “tình”. Bởi hai chữ đó có bao giờ được vẹn nguyên, sự lựa chọn nghiệt ngã, đầy nước mắt ấy chính là con đường gian khổ mà Thúy Kiều phải chịu dày vò.

Qua việc xây dựng hình tượng Thúy Kiều đẹp đẽ, đầy sức sống, đầy khát khao và tình yêu Nguyễn Du đã gửi gắm đến người đọc thông điệp về khát vọng sống, khát vọng vươn tới hạnh phúc. Khi tình yêu lớn hơn sự khắc nghiệt của hiện tại thì nó sẽ chiến thắng.

Người đọc không khỏi xúc động, nghẹn ngào thương cho cuộc đời của Thúy Kiều, thương cho những người con gái bạc mệnh trong xã hội phong kiến. Qua đó bộc lộ thái độ căm phẫn đến tột độ xã hội thối nát đẩy con người đến bước đường cùng.

Như vậy “Truyện Kiều” của Nguyễn Du thực sự là một tác phẩm mang nặng cảm hứng nhân đạo và tình yêu thương con người sâu sắc. Đây là điều mà Nguyễn Du muốn hướng tới, muốn gửi gắm đến mọi người.

Phân tích cảm hứng nhân đạo trong Truyện Kiều – Mẫu 4

Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc ta. Tác phẩm Truyện Kiều của ông đã để lại nhiều tiếng vang lớn, thể hiện sự cảm thông của tác giả Nguyễn Du với những thân phận, những người phụ nữ tài sắc, hiền hậu, thủy chung nhưng bị xã hội vùi dập, chà đạp.

Qua tác phẩm người đọc có thể cảm nhận được tinh thần nhân văn, nhân đạo sâu sắc của tác giả Nguyễn Du với những số phận con người trong xã hội phong kiến tồi tàn, thối nát, suy đồi về đạo đức và nhân cách.

Chính nguồn cảm hứng nhân đạo thấm đẫm giá trị nhân văn của tác phẩm Truyện Kiều đã có sức ảnh hưởng lớn lao tới những con người trong xã hội. Những con người có lương tri, có học thức cảm thấy thương cảm cho người con gái hồng nhan, đa tài mà phải chịu kiếp ba chìm bảy nổi, không có được hạnh phúc cho riêng mình, sống cuộc sống lưu vong nhiều sóng gió.

Qua tác phẩm Truyện Kiều người ta cảm nhận thấy tâm hồn tràn đầy tình yêu và lòng trắc ẩn của tác giả Nguyễn Du với nhân vật của mình là cô gái Thúy Kiều. Nguyễn Du với tình cảm của mình đã vẽ lên một nhân vật Thúy Kiều vô cùng hoàn mỹ, vẹn toàn về tài lẫn sắc, về hình thức lẫn tâm hồn.

Thúy Kiều là người con gái có nhiều ưu điểm sống thủy chung tình nghĩa, biết thương yêu cha mẹ lo lắng cho các em, thủy chung với vị hôn thê. Một người con gái tốt đẹp như vậy xưa nay hiếm. Nhưng với tình yêu của mình tác giả Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Kiều không còn lời nào có thể tuyệt vời hơn.

Tinh thần nhân đạo của tác giả thể hiện xuyên suốt bài thơ từ đầu tới cuối truyện, từ phẩm chất, nhân cách, ngoại hình, tài năng… Tác giả khát khao muốn mang tới cho người đọc một giá trị về sự hoàn mỹ. Tác giả đã thấu hiểu nỗi khốn khổ hoàn cảnh trôi nổi của một cô gái hồng nhan, thổi một chữ tình vào nhân vật Thúy Kiều của chúng ta.

Thúy Kiều đã phải trải qua nhiều cay đắng, nhiều ê chề, tủi hổ trong cuộc sống lang bạt của mình. Nàng đã năm lần bảy lượt bị bán vào lầu xanh, nhưng nàng vẫn kiên cường, trong cảnh khó khăn như thế nào thì Thúy Kiều vẫn xót thương cho cha mẹ già yếu, xót xa cho người yêu của mình khi giờ đây đang cô đơn lẻ bóng. Nàng mơ có một cuộc sống bình dị, được làm vợ hiền con thảo sống bình thường như bao nhiêu người khác. Một mơ ước giản dị vô cùng nhưng đối với Thúy Kiều mơ ước đó thật viển vông, xa vời.

Sự cay đắng tủi nhục mà nhân vật Thúy Kiều của chúng ta đã trải qua trong suốt 15 năm lưu lạc chính là những lời xót xa, những giọt nước mắt cảm thông mà tác giả Nguyễn Du đã dành cho nàng.

Việc tác giả Nguyễn Du xây dựng hình tượng Thúy Kiều vừa đẹp đẽ, nhân hậu, hiếu nghĩa vừa chung thủy, trọn tình vẹn nghĩa, thể hiện tình yêu của tác giả Nguyễn Du dành cho nhân vật của mình. Đồng thời qua nhân vật Thúy Kiều tác giả cũng muốn tố cáo tội ác của xã hội cũ, một xã hội mất hết lương tri, mất hết đạo đức đẩy một người con gái ngoan hiền tới đường nhơ nhuốc.

Trong từng trích đoạn xuyên suốt tác phẩm Truyện Kiều đã nhiều lần người đọc phải rưng rưng dòng lệ cảm thương cho thân phận nàng Thúy Kiều trước những éo le, oan tình mà nàng đã vướng phải. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du thể hiện tinh thần nhân văn, nhân đạo vô cùng sâu sắc của tác giả hướng tới những người phụ nữ trong chế độ phong kiến.

Phân tích cảm hứng nhân đạo trong Truyện Kiều – Mẫu 5

Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Ngay từ hai câu thơ đề từ cho tập Truyện Kiều, Nguyễn Du đã gửi gắm quan điểm của mình về nhân sinh quan với xã hội. Thông qua tác phẩm, nhà thơ đã giúp cho người đọc nhận ra được xã hội phong kiến thối nát, đã chà đạp con người cả thể xác và tinh thần. Cảm hứng nhân đạo đã được thể hiện xuyên suốt từng nhân vật, từng câu chữ, ngấm vào tim của tác giả cũng như của người đọc.

Cảm hứng nhân đạo chính là đề tài xuyên suốt trong Truyện Kiều. Tác giả Nguyễn Du đã cảm thương cho số phận hồng nhan tài hoa bạc mệnh. Từ hiện thực nhiều cay nghiệt, oan trái trong xã hội phong kiến bấy giờ đã vùi dập số phận con người nổi trôi.

Nguyễn Du một con người tràn đầy tình yêu và lòng trắc ẩn đối với những thân phận người nổi trội trong xã hội. Ông đã xây dựng nhân vật bằng chính trái tim, bằng nước mắt, bằng những rung cảm để khắc họa thành công nhân vật Thúy Kiều. Kỳ thực Thúy Kiều được tác giả xây dựng lên bằng ngôn ngữ trau chuốt và sắc nét nhất:

Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Nàng Kiều được khắc họa với vẻ ngoài đẹp đến mức mây cũng phải thua nước tóc, tuyết còn phải nhường màu da. Một người đẹp có một không hai về nhan sắc, tài năng cầm – kỳ – thi – họa đều thuần thục. Tuy nhiên, cuộc đời của người con gái đẹp đó đáng ra phải được hưởng sung sướng hạnh phúc trong nhung gấm thì lại phải trải qua bao nhiêu sóng gió, chịu nhiều nỗi nhục nhã, ê chề tưởng chừng như không sống được. Nhưng nàng vẫn kiên cường, mạnh mẽ chống chọi tất cả. Hơn hết Thúy Kiều đã vượt lên số phận, luôn khát khao yêu thương, khát khao hạnh phúc. Đây là một mơ ước hết sức bình dị với mọi người nhưng lại vô cùng lớn lao đối với số kiếp tài hoa bạc mệnh như Thúy Kiều.

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh.
Giật mình mình lại thương mình xót xa.

Nỗi cay đắng, cùng cực mà cô mang suốt 15 năm qua chính là số mệnh mà cô phải hứng chịu. Người con gái ấy càng mạnh mẽ bao nhiêu thì càng bị vùi dập bấy nhiêu. Thực sự người đọc phải rớt nước mắt trước cảnh một người con gái tuyệt sắc giai nhân như vậy lại bị chà đạp cả thể xác và nhân phẩm.

Qua việc xây dựng hình tượng Thúy Kiều mạnh mẽ, đầy sức sống, đầy khát khao vươn lên. Nguyễn Du đã gửi gắm đến người đọc thông điệp về khát vọng sống, khát vọng vươn tới hạnh phúc. Khi tình yêu lớn hơn sự khắc nghiệt của thực tại xã hội thì nó sẽ chiến thắng. Người đọc không chỉ cảm thương cho số phận của nàng Kiều. Mà còn hiểu rõ thêm về hiện thực xã hội phong kiến thối nát đã chà đạp con người ta, dồn họ vào bước đường cùng. Cho đến nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du thực sự được xem là một tác phẩm văn học thành công nhất trong kho tàng văn học của Việt Nam.

Đăng bởi: THPT Nguyễn Đình Chiểu

Chuyên mục: Tài Liệu Lớp 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!