Lớp 5

Ôn tập cuối học kì II trang 162 SGK Tiếng Việt 5 tập 2

Ôn tập cuối học kì II tuần 35 – SGK Tiếng Việt 5 tập 2 trang 162 giúp thầy cô tham khảo, soạn bài ôn tập cho học sinh của mình. Đồng thời, cũng giúp các em học sinh ôn tập, nắm được các kiến thức cơ bản để ôn thi học kì 2 môn Tiếng Việt lớp 5 đạt kết quả cao.

Tiết 1

Câu 1 (trang 162 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng.

Bạn đang xem: Ôn tập cuối học kì II trang 162 SGK Tiếng Việt 5 tập 2

Trả lời:

Học sinh tự thực hành.

Câu 2 (trang 162 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Lập bảng tổng kết về chủ ngữ, vị ngữ trong từng kiểu câu kể theo những yêu cầu sau:

a) Câu hỏi của chủ ngữ hoặc vị ngữ.

b) Cấu tạo của chủ ngữ hoặc vị ngữ.

M: Kiểu câu “Ai làm gì ?”

Thành phần câu
Đặc điểm
Chủ ngữ Vị ngữ
Câu hỏi Ai ?, Cái gì ?, Con gì ? Làm gì ?
Cấu tạo – Danh từ, cụm danh từ
– Đại từ
Động từ, cụm động từ

Trả lời:

Kiểu câu “Ai thế nào?”

Chủ ngữ Vị ngữ
Câu hỏi Ai? Cái gì? Con gì? Thế nào?
Cấu tạo

Danh từ, cụm danh từ
Đại từ

Tính từ, cụm tính từ
Động từ, cụm động từ

Kiểu câu “Ai là gì?”

Chủ ngữ Vị ngữ
Câu hỏi Ai? Cái gì? Con gì? Là gì? Là ai? Là con gì?
Cấu tạo Danh từ, cụm danh từ Là + danh từ/cụm danh từ

Tiết 2

Câu 1 (trang 162 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng.

Trả lời:

Học sinh chủ động hoàn thành bài tập.

Câu 2 (trang 162 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Dựa vào kiến thức đã học, hãy hoàn chỉnh bảng tổng kết sau:

Các loại trạng ngữ Câu hỏi Ví dụ
Trạng ngữ chỉ nơi chốn ở đâu ? Ngoài đường, xe cộ đi lại như mắc cửi.

Trả lời:

Các loại trạng ngữ Câu hỏi Ví dụ
Trạng ngữ chỉ nơi chốn Ở đâu? – Ngoài đường, xe cộ đi lại như mắc cửi
Trạng ngữ thời gian Khi nào? Mấy giờ? – Sáng sớm tinh mơ, nông dân đã ra đồng.
– Đúng 8 giờ sáng, chúng tôi bắt đầu lên đường.
Trạng ngữ chỉ nguyên nhân Vì sao? Nhờ đâu? Tại đâu? – Vì vẳng tiếng cười, Vương quốc nọ buồn chán kinh khủng.
– Nhờ siêng năng, chăm chỉ, chỉ 3 tháng sau, Nam đã vượt lên đầu lớp.
– Tại trời mưa, chuyến đi của chúng tôi đã bị hoãn lại.
– Tại Hoa biếng học mà tổ chẳng được khen.
Trạng ngữ chỉ mục đích Để làm gì? Vì cái gì? – Để đỡ nhức mắt, người làm việc với máy vi tính cứ 45 phút phải nghỉ giải lao.
– Vì Tổ quốc, thiếu niên sẵn sàng.
Trạng ngữ chỉ phương tiện Bằng cái gì? Với cái gì? – Bằng một giọng rất nhỏ nhẹ, chân tình. Hà khuyên bạn nên chăm học.
– Với đôi bàn tay khéo léo, Dũng đã nặn được một con trâu đất y như thật.

Tiết 3

Câu 1 (trang 163 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng.

Trả lời:

Học sinh chủ động hoàn thành bài tập.

Câu 2 (trang 163 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Dựa vào các số liệu dưới đây, em hãy lập bảng thống kê về tình hình phát triển giáo dục tiểu học của nước ta từ năm học 2000 – 2001 đến năm học 2004 – 2005.

a) Năm học 2000 – 2001

– Số trường: 13859

– Số học sinh: 9 741 100

– Số giáo viên: 355 900

– Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số: 15,2%

b) Năm học 2001 – 2002

– Số trường: 13 903

– Số học sinh: 9 315 300

– Số giáo viên: 359 900

– Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số: 15,8%

c) Năm học 2002

– Số trường: 14 163

– Số học sinh: 8 815 700

– Số giáo viên: 363 100

– Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số: 16,7%

d) Năm học 2003 – 2004

Số trường: 14 346

Số học sinh: 8 346 000

Số giáo viên: 366 200

Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số: 17,7%

e) Năm học 2004 – 2005

Số trường: 14 518

Số học sinh: 7 744 800

Số giáo viên: 362 400

Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số: 19,1%

Theo NIÊN GIÁM THỐNG KẾ 2004

Trả lời:

THỐNG KÊ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU HỌC VIỆT NAM
(Từ NĂM HỌC 2000 – 2001 ĐẾN 2004 – 2005)

1) Năm học (2) Số trường (3) Số học sinh (4) Số giáo viên (5) Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số
(1) 2000 – 2001 13 859 9 741 100 355 900 15,2%
(2) 2001 – 2001 13 903 9 315 300 359 900 15,8%
(3) 2002 – 2003 14 163 8 815 700 363 100 16,7%
(4) 2003 – 2004 14 346 8 346 000 366 200 17,7%
(5) 2004 – 2005 14 518 7 744 800 362 400 19,2%

Câu 3 (trang 164 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Qua bảng thống kê trên, em rút ra những nhận xét gì? Chọn ý trả lời đúng:

a) Số trường hằng năm tăng hay giảm?

– Tăng      – Giảm      – Lúc tăng lúc giảm

b) Số học sinh hằng năm tăng hay giảm?

– Tăng      – Giảm      – Lúc tăng lúc giảm

c) Số giáo viên hằng năm tăng hay giảm?

– Tăng       – Giảm     – Lúc tăng lúc giảm

d) Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số hằng năm tăng hay giảm?

– Tăng       – Giảm     – Lúc tăng lúc giảm

Trả lời:

Chọn ý trả lời đúng

a) Tăng

b) Giảm

c) Lúc tăng lúc giảm

d) Tăng

Tiết 4

Dưới đây là một câu chuyện em đã học từ lớp 3. Giả sử em là một chữ cái (hoặc một dấu câu) làm thư kí cuộc họp, em hãy viết biên bản cuộc họp ấy:

Cuộc họp của chữ viết

Vừa tan học, các chữ cái và dấu câu đã ngồi lại họp. Bác Chữ A dõng dạc mở đầu :

– Thưa các bạn! Hôm nay, chúng ta họp để tìm cách giúp đỡ em Hoàng. Hoàng hoàn toàn không biết chấm câu. Có đoạn văn em viết thế này: “Chú lính bước vào đầu chú. Đội chiếc mũ sắt dưới chân. Đi đôi giày da trên trán lấm tấm mồ hôi.”

Có tiếng xì xào:

– Thế nghĩa là gì nhỉ?

Nghĩa là thế này: “Chú lính bước vào. Đầu chú đội chiếc mũ sắt. Dưới chân đi đôi giày da. Trên trán lấm tấm mồ hôi.”

Tiếng cười rộ lên. Dấu Chấm nói:

– Theo tôi, tất cả là do cậu này chẳng bao giờ để ý đến dấu câu. Mỏi tay chỗ nào, cậu ta chấm chỗ ấy.

Cả mấy dấu câu đều lắc đầu :

– Ẩu thế nhỉ!

Bác Chữ A đề nghị:

– Từ nay, mỗi khi em Hoàng định chấm câu, anh Dấu Chấm cần yêu cầu Hoàng đọc lại câu văn một lần nữa đã. Được không nào?

Phỏng theo TRẦN NINH HỒ

Trả lời:

BIÊN BẢN HỌP (Lớp 5C)

1. Thời gian, địa điểm.

– Thời gian: 16h30’, ngày 18/5/2018

– Địa điểm: lớp 5C, Trường Tiểu học Hùng Vương

2. Thành viên tham dự: các chữ cái và dấu câu

– Chủ tọa, thư kí:

– Chủ tọa: bác Chữ A

– Thư kí: Chữ C

3. Nội dung cuộc họp:

– Bác Chữ A phát biểu: Mục đích cuộc họp — tìm cách giúp đỡ Hoàng không biết chấm câu. Tình hình hiện nay: Vì Hoàng hoàn toàn không biết chấm câu nên đã viết những câu rất vô nghĩa.

– Anh Dấu Chấm phân tích nguyên nhân: Khi viết, Hoàng không để ý đến các dấu câu, mỏi tay chỗ nào, chấm chỗ ấy.

– Đề nghị của Bác Chữ A và cách giải quyết, phân việc: Từ nay, mỗi khi Hoàng định chấm câu, Anh Dấu Chấm phải yêu cầu Hoàng đọc lại câu văn. Anh Dấu Chấm có trách nhiệm giám sát Hoàng thực hiện nghiêm túc điều này.

– Tất cả các chữ cái và dấu câu tán thành ý kiến của chủ tọa.

– Cuộc họp kết thúc vào 17h30′, ngày 18/5/2018.

Người lập biên bản kí
Chữ C

Chủ tọa kí
Chữ A

Tiết 5

Câu 1 (trang 165 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng.

Trả lời:

Học sinh chủ động hoàn thành bài tập.

Câu 2 (trang 165, 166 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi:

Trẻ con ở Sơn Mỹ

Cho tôi nhập vào chân trời các em
Chân trời ngay trên cát

Sóng ồn ào phút giây nín bặt
Ôi biển thèm hóa được trẻ thơ

Tóc bết đầy nước mặn
Chúng ùa chạy mà không cần tới đích
Tay cầm cành củi khô

Vớt từ biển những vỏ ốc âm thanh
Mặt trời chảy trên bàn tay nhỏ xíu
Gió à à u u như ngàn cối xay xay lúa
Trẻ con là hạt gạo của trời

Cho tôi nhập vào chân trời các em
Hoa xương rồng chói đỏ
Tuổi thơ đứa bé da nâu
Tóc khét nắng màu râu bắp
Thả bò những ngọn đồi vòng quanh tiếng hát
Nắm cơm khoai ăn với cá chuồn
Chim bay phía vầng mây như đám cháy
Phía lời ru bầu trời tím lại
Võng dừa đưa sóng thở ngoài kia
Những ngọn đèn dầu tắt vội dưới màn sao
Đêm trong trẻo rộ lên tràng chó sủa
Những con bò đập đuôi nhai lại cỏ
Mùi rơm nồng len lỏi giữa cơn mơ

a) Bài thơ gợi ra những hình ảnh rất sống động về trẻ em. Hãy miêu tả một hình ảnh mà em thích nhất.

b) Tác giả quan sát buổi chiều tối và ban đêm ở vùng quê ven biển bằng những giác quan nào? Hãy nêu một hình ảnh hoặc chi tiết mà em thích trong bức tranh phong cảnh ấy.

Trả lời:

a) Tuổi thơ đứa bé da nâu. Tóc khét nắng màu râu bắp. Thả bò những ngọn đồi vòng quanh tiếng hát. Nắm cơm khoai ăn với cá chuồn. Những hình ảnh đó gợi cho em nhớ lại lời ba kể về tuổi thơ nghèo khổ của ba ngày xưa…

b) Buổi chiều tối và ban đêm ở vùng quê ven biển được nhà thơ “tả bằng cảm nhận của nhiều giác quan”.

– Thị giác (mắt) để thấy hoa xương rồng chói đỏ, những em bé da nâu tóc khét nắng màu râu bắp, chim bay phía vầng mây như đám cháy / võng dừa đưa sóng, những ngọn đèn bắt vội dưới màn sao, những con bò nhai cỏ…

– Bằng thính giác (tai) để nghe tiếng hét của những đứa trẻ thả bò / nghe thấy lời ru / nghe thấy tiếng đập đuôi của những con bò đang nhai lại cỏ.

– Bằng khứu giác (mũi) để ngửi thấy mùi rơm nồng len lỏi giữa cơn mơ.

Tiết 6

Câu 1 (trang 166 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Nghe – viết. Trẻ con ở Sơn Mỹ (từ đầu đến hạt gạo của trời)

Trả lời:

Trẻ con ở Sơn Mỹ

Cho tôi nhập vào chân trời các em
Chân trời ngay trên cát

Sóng ồn ào phút giây nín bặt
Ôi biển thèm hóa được trẻ thơ

Tóc bết đầy nước mặn
Chúng ùa chạy mà không cần tới đích
Tay cầm cành củi khô

Vớt từ biển những vỏ ốc âm thanh
Mặt trời chảy trên bàn tay nhỏ xíu
Gió à à u u như ngàn cối xay xay lúa
Trẻ con là hạt gạo của trời

Câu 2 (trang 166 SGK Tiếng Việt 5 tập 2)

Dựa vào hiểu biết của em và những hình ảnh được gợi ra từ bài thơ Trẻ con ở Sơn Mỹ, hãy viết một đoạn văn khoảng 5 câu theo một trong các đề bài sau:

a) Tả một đám trẻ đang chơi đùa hoặc đang chăn trâu, chăn bò.

b) Tả một buổi chiều tối hoặc một đêm yên tĩnh ở vùng biển hoặc ở một làng quê.

Trả lời:

a) Tả một đám trẻ đang chơi đùa hoặc đang chăn trâu, chăn bò.

Trở về quê hương, điều khiến em cảm thấy vui nhất là gặp gỡ đám bạn chăn trâu trong xóm. Mấy bạn ấy chỉ chừng bằng tuổi em. Ấy thế mà bạn nào bạn nấy da cũng đen nhẻm vì dãi nắng dầm sương. Cuộc sống nơi thôn quê nhọc nhằn và vất vả in hằn trên gương mặt của từng bạn. Chỉ có nụ cười là vẫn như vậy, tươi rói và rạng rỡ như ánh nắng ngày hạ. Em rất quý và thương các bạn, hè năm tới em sẽ lại xin bố được về quê thăm ông bà và gặp lại các bạn.

>> Tham khảo: Đoạn văn tả một đám trẻ con đang chơi đùa

b) Tả một buổi chiều tối hoặc một đêm yên tĩnh ở vùng biển hoặc ở một làng quê.

Màn đêm buông xuống, bãi biển trở nên vắng lặng, yên tĩnh khác hẳn với cái vẻ náo nhiệt ban ngày. Từ màu xanh hiền hoà, mát mẻ, mặt biển từ từ được phủ màu đen, thỉnh thoảng lại lấp lánh ánh bạc của ngàn sao theo nhịp từng con sóng. Màn đêm phủ trùm lên vạn vật khiến mắt ta chẳng trông thấy gì chỉ có tiếng sóng rì rào, vỗ nhẹ vào bờ như một bản trường ca bất tận. Những con sóng đem làn nước biển mát lạnh, liếm nhẹ lên bàn chân cùng với những làn gió mát rượi mang theo hương vị mằn mặn của biển, vuốt ve khắp người tạo nên một cảm giác thật khoan thai, dễ chịu. Ban đêm, dạo chơi trên bãi biển tĩnh lặng quả là thú vị.

>> Tham khảo: Đoạn văn tả buổi chiều tối hoặc đêm yên tĩnh

Tiết 7

A. Đọc thầm

Cây gạo ngoài bến sông

Ngoài bãi bồi có một cây gạo già xòe tán lá xuống mặt sông. Thương và lũ bạn lớn lên đã thấy những mùa hoa gạo đỏ ngút trời và từng đàn chim lũ lượt bay về. Cứ mỗi năm, cây gạo lại xòe thêm được một tán lá tròn vươn cao lên trời xanh. Thân nó xù xì, gai góc, mốc meo, vậy mà lá thì xanh mởn, non tươi, dập dờn đùa trong gió. Vào mùa hoa, cây gạo như đám lửa đỏ ngang trời hừng hực cháy. Bến sông bừng lên đẹp lạ kì.

Chiều nay, đi học về. Thương cùng các bạn ùa ra cây gạo. Nhưng kìa, cả một vạt đất quanh gốc gạo phía mặt sông lở thành hố sâu hoắm, những cái rễ gầy nhẳng nhơ ra, cây gạo chỉ còn biết tì lưng vào bãi ngô. Những người buôn cát đã cho thuyền vào xúc cát ngay ở khúc sông dưới gốc gạo. Cây gạo buồn thiu, những chiếc lá cụp xuống, ủ ê.

Thương thấy chập chờn như có tiếng cây gạo đang khóc, những giọt nước mắt quánh lại đỏ đặc như máu nhỏ xuống dòng sông… Thương bèn rủ các bạn lội xuống bãi bồi, lấy phù sa nhão đắp che kín những cái rễ cây bị trơ ra. Chẳng mấy chốc, ụ đất cạo dần, trông cây gạo bớt chênh vênh hơn.

Thương và các bạn hồi hộp chờ sáng mai thế nào cây gạo cũng tươi tỉnh lại, những cái lá xòe ra vẫy vẫy và chim chóc sẽ bay về hàng đàn… Tháng ba sắp tới, bến sông lại rực lên sắc lửa cây gạo, Thương tin chắc là như thế.

Theo MAI PHƯƠNG

B. Dựa vào nội dung bài đọc, chọn ý trả lời đúng

1. Những chi tiết nào cho biết cây gạo ngoài bến sông đã có từ lâu?

a) Cây gạo già ; thân cây xù xì, gai góc, mốc meo; Thương và lũ bạn lớn lên đã thấy cây gạo nở hoa.

b) Hoa gạo đỏ ngút trời, tán lá tròn vươn cao lên trời xanh.

c) Cứ mỗi năm, cây gạo lại xoè thêm được một tán lá tròn vươn cao lên trời xanh.

Trả lời:

ý a: Cây gạo già ; thân cây xù xì, gai góc, mốc meo ; Thương và lũ bạn lớn lên đã thấy cây gạo nở hoa.

2. Dấu hiệu nào giúp Thương và các bạn biết cây gạo lớn thêm một tuổi?

a) Cây gạo nở thêm một mùa hoa.

b) Cây gạo xoè thêm được một tán lá tròn vươn cao lên trời.

c) Thân cây xù xì, gai góc, mốc meo hơn.

Trả lời:

ý b: Cây gạo xoè thêm được một tán lá tròn vươn cao lên trời.

3. Trong chuỗi câu Vào mùa hoa, cây gạo như đám lửa đỏ ngang trời hừng hực cháy. Bến sông bừng lên đẹp lạ kì”, từ bừng nói lên điều gì?

a) Mọi vật bên sông vừa thức dậy sau giấc ngủ.

b) Mặt trời mọc làm bến sông sáng bừng lên.

c) Hoa gạo làm bến sông sáng bừng lên.

Trả lời:

ý c: Hoa gạo làm bến sông sáng bừng lên.

4. Vì sao cây gạo buồn thiu, những chiếc lá cụp xuống, ủ ê?

a) Vì sông cạn nước, thuyền bè không có.

b) Vì đã hết mùa hoa, chim chóc không tới.

c) Vì có kẻ đào cát dưới gốc gạo, làm rễ cây trơ ra.

Trả lời:

ý c: Vì có kẻ đào cát dưới gốc gạo, làm rễ cây trơ ra.

5. Thương và các bạn nhỏ đã làm gì để cứu cây gạo?

a) Lấy cát đổ đầy gốc cây gạo.

b) Lấy đất phù sa lấp kín những cái rễ cây bị trơ ra.

c) Báo cho Ủy ban xã biết về hành động lấy cát bừa bãi của kẻ xấu.

Trả lời:

ý b: Lấy đất phù sa lấp kín những cái rễ cây bị trơ ra.

6. Việc làm của Thương và các bạn nhỏ thể hiện điều gì?

a) Thể hiện tinh thần đoàn kết.

b) Thể hiện ý thức bảo vệ môi trường.

c) Thể hiện thái độ dũng cảm đấu tranh với kẻ xấu.

Trả lời:

ý b: Thể hiện ý thức bảo vệ môi trường.

7. Câu nào dưới đây là câu ghép?

a) Chiều nay, đi học về, Thương cùng các bạn ùa ra cây gạo.

b) Cây gạo buồn thiu, những chiếc lá cụp xuống, ủ ê.

c) Cứ mỗi năm, cây gạo lại xoè thêm được một tán lá tròn vươn cao lên trời xanh.

Trả lời:

ý b: Cây gạo buồn thiu, những chiếc lá cụp xuống, ủ ê.

8. Các vế câu trong câu ghép “Thân nó xù xì, gai góc, mốc meo, vậy mà lá thì xanh mởn, non tươi, dập dờn đùa với gió” được nối với nhau bằng cách nào?

a) Nối bằng từ “vậy mà”.

b) Nối bằng từ “thì”.

c) Nối trực tiếp (không dùng từ nối).

Trả lời:

ý a: Nối bằng từ “vậy mà”.

9. Trong chuỗi câu “Chiều nay, đi học về, Thương cùng các bạn ùa ra cây gạo. Nhưng kìa, cả một vạt đất quanh gốc gạo phía mặt sông lở thành hố sâu hoắm…”, câu in nghiêng liên kết với câu đứng trước nó bằng cách nào?

a) Dùng từ ngữ nối và lặp từ ngữ.

b) Dùng từ ngữ nối và thay thế từ ngữ.

c) Lặp từ ngữ và thay thế từ ngữ.

Trả lời:

ý a: Dùng từ ngữ nối và lặp từ ngữ.

10. Dấu phẩy trong câu “Thân nó xù xì, gai góc, mốc meo” có tác dụng gì?

a) Ngăn cách các vế câu.

b) Ngăn cách trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ.

c) Ngăn cách các từ cùng làm vị ngữ.

Trả lời:

ý c: Ngăn cách các từ cùng làm vị ngữ.

Tiết 8

Bài luyện tập

Đề bài: Em hãy miêu tả cô giáo (hoặc thầy giáo) của em trong một giờ học mà em nhớ nhất

Dàn ý tả cô giáo

I. Mở bài

  • Giới thiệu về cô giáo.
  • Cô là người mẹ thứ hai của em.

II. Thân bài

1. Giới thiệu chung về cô giáo: tên, tuổi…

2. Tả ngoại hình của cô

  • Cô có dáng thon thả, thướt tha trong chiếc áo dài.
  • Mái tóc đen, dài xõa ngang vai.
  • Khuôn mặt đầy đặn, cân đối với chiếc mũi thẳng, đôi môi hồng luôn tươi cười.
  • Đôi mắt to và đen; nhìn hiền từ, thân thiện.
  • Nước da trắng trẻo.
  • Bàn tay nhỏ nhắn có các ngón thon dài.
  • Bước đi uyển chuyển.
  • Giọng nói rõ ràng, rành mạch.

3. Tính cách của cô

  • Hiền dịu
  • Nghiêm khắc…

III. Kết bài

Nêu cảm nghĩ về cô.

  • Cô giáo thật dễ thương, gần gũi.
  • Tình cảm dành cho cô giáo.

Tả cô giáo mà em yêu quý

Mỗi người từng bước từng bước chinh phục được con đường tri thức không chỉ bằng sự nỗ lực của chính mình mà trước hết là sự dìu dắt của những người thầy người cô. Cô Hạnh là một trong những người lái đò đã dạy dỗ và bảo ban em rất nhiều.

Ngày ngày được nhìn thấy cô trên bục giảng nên bóng hình cô đã in sâu vào tâm trí em. Cô năm nay đã gần bốn mươi tuổi nhưng vẫn toát ra nét trẻ trung và rạng ngời. Chúng em hay đoán hồi thiếu nữ cô hẳn rất xinh đẹp. Ấn tượng đầu tiên của e khi gặp cô chính là sự duyên dáng, điềm tĩnh thể hiện từ hành động, cử chỉ, giọng nói. Cô có dáng người thanh mảnh, cân đối. Cô không quá cao, khi đi giày thì hình dáng trở nên hài hòa và vừa vặn. Nước da cô trắng hồng, tràn đầy sức sống. Mỗi khi đến trường, trang phục cô hay mặc nhất là áo dài. Đó là những chiếc áo dài chính cô đặt may, không quá cầu kỳ nhưng thanh lịch, tao nhã, tôn lên đường nét và vẻ đẹp của cô. Cô đi rất chậm rãi, khoan thai, không việc gì có thể làm cô vội vàng cả. Bởi vậy hình ảnh cô mặc áo dài với tà áo bay bay và bước đi trên sân trường là kí ức khó quên với mỗi học sinh của cô. Khuôn mặt cô hình trái xoan với hai gò má đầy đặn. Dù phải đeo kính nhưng cặp kính cũng không che được sự ấm áp, hiền từ trong đôi mắt cô. Khi giảng bài cho học sinh, đôi mắt ấy tràn đầy nhiệt huyết, say sưa. Thỉnh thoảng cô nhìn về phía em như muốn hỏi em có hiểu bài không. Em thấy được khát khao muốn truyền đạt thật nhiều tri thức cho học trò trong đôi mắt ấy. Cô hay cười, nụ cười tươi tắn và rạng rỡ, cùng với hàm răng đều tăm tắp. Nhưng mỗi khi cười cô lại để lộ vết chân chim trên khóe mắt. Mái tóc cô dài đến ngang lưng, đen nhánh, luôn được giữ thẳng và mượt mà. Cô thích mái tóc như thế vì đó là vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt. Đôi bàn tay cô gầy, lộ rõ những đường gân. Nó còn có đôi phần thô ráp vì ngoài là một cô giáo, cô cũng là một người mẹ, người vợ và người con. Bàn tay ấy đã cầm phấn viết bảng mấy chục năm, đã động viên vỗ về mỗi khi chúng em buồn bã, yếu đuối hay mệt mỏi. Giọng cô lúc trầm lúc bổng theo nhịp điệu của bài giảng, đầy sức cuốn hút.

Cô dạy môn Ngữ Văn và là giáo viên chủ nhiệm nên ngoài những bài giảng bổ ích, cô còn là một người bạn, người mẹ, người đi trước truyền dạy cho chúng em những bài học cuộc sống.

>> Tham khảo: Tả cô giáo, Tả thầy giáo

Đăng bởi: THPT Nguyễn Đình Chiểu

Chuyên mục: Tài Liệu Lớp 5

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!