Hình ảnh ngôi trường
Đơn vị cá nhân tài trợ
Hình ảnh nổi bật
Địa chỉ liên kết
Thống kê
» Hôm nay: 178
» Tổng lượt truy cập: 2805080
» Tổng số bài viết: 2763
» Tổng số video clip: 369
Tiểu sử Nhà thơ yêu nước NĐC

 

     Nguyễn Đình Chiểu (Cụ Đồ Chiểu), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ, tức ngày 01 tháng 7 năm 1822 tại làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh).
     Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho. Thân sinh của Nguyễn Đình Chiểu là Nguyễn Đình Huy, quê ở Thừa Thiên, chuyển vào Gia Định sinh sống vào khoảng năm 1822, làm Thư lại trong dinh Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ của Nguyễn Đình Chiểu là Trương Thị Thiệt, người Gia Định.
     Nguyễn Đình Chiểu sinh ra trong thời kỳ chế độ phong kiến mục nát bộc lộ những mâu thuẫn xã hội gay gắt và đang đi vào con đường bế tắc. Nông dân ngày càng bần cùng hóa. Ruộng đất hầu hết đều nằm trong tay triều đình, tô, thuế, sưu, dịch hết sức nặng nề. Nạn đói và bệnh dịch hoành hành nhiều nơi. Phong trào nông dân chống lại triều đình nổ ra ở nhiều nơi. Năm 1833, cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi bùng nổ. Cụ Nguyễn Đình Huy bỏ trốn về Huế và bị triều đình cách chức. Ông tìm cách đưa Nguyễn Đình Chiểu ra Huế ở nhờ nhà một người bạn để học hành.

 

 

       Tại trường thi Hương Gia Định khoa thi năm Quý Mão (1843), Nguyễn Đình Chiểu đỗ Tú Tài. Khi ấy một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông. Năm Bính Ngọ (1846) Nguyễn Đình Chiểu ra Huế học chờ ngày dự khoa thi Hội năm Kỷ Dậu (1849) tại kinh đô, nhưng chưa đến ngày thi thì ông nhận được tin mẹ mất. Nguyễn Đình Chiểu quyết định bỏ thi cùng với người em trở về Nam chịu tang mẹ. Trên đường đi, vì lo buồn, thương khóc, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt. Trong thời gian bị bệnh, ông trú ngụ tại nhà ông lang Trung tại Quảng Nam để dưỡng bệnh và cũng tại đây ông học được nghề thuốc.
     Bị tật nguyền, công danh dang dở, lại bị hủy hôn, Nguyễn Đình Chiểu rất đau lòng. Tuy vậy, ông không nản chí, ông quyết tâm đem sở học của mình làm những việc có ích cho đời, có ích lợi cho nhân dân.
Sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu mở trường dạy học ở Bình Vi (Gia Định), tiếp tục nghiên cứu nghề làm thuốc và bắt đầu sáng tác thơ văn.
     Một người học trò của Nguyễn Đình Chiểu là Lê Tăng Quýnh làng Thanh Ba, Cần Giuộc, rất mến phục và thông cảm sâu sắc với cảnh ngộ của thầy đã xin với gia đình gả em gái thứ năm là Lê Thị Điền cho người thầy học của mình. Đây là thời kỳ Nguyễn Đình Chiểu vừa dạy học vừa sáng tác truyện Lục Vân Tiên nổi tiếng, một tác phẩm mang tính chất tự truyện của tác giả.
     Năm 1858, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Ngày 17 – 2 - 1859, Pháp đưa chiến thuyền theo cửa biển Cần Giờ vào đánh chiếm thành Gia Định. Cũng như nhiều sĩ phu yêu nước khác, Nguyễn Đình Chiểu cũng thực hiện “tị địa”, bất hợp tác với giặc, về sống ở quê vợ tại làng Thanh Ba, Cần Giuộc. Dù đã mù lòa nhưng Nguyễn Đình Chiểu hết sức gắn bó với nghĩa quân yêu nước. Ông vẫn thường xuyên liên lạc với những người lãnh đạo nghĩa quân. Khi bạn đồng khoa với ông là Đỗ Trình Thoại đã hi sinh cùng nhiều nghĩa quân khác trong trận đánh đồn Tây Dương ở Cần Giuộc (tháng 12/1961), Nguyễn Đình Chiểu đã viết tác phẩm nổi tiếng “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ca ngợi chiến công anh hùng của những nghĩa sĩ trong trận đánh này. Cũng trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu cũng hoàn thành sáng tác truyện thơ Dương Từ - Hà Mậu, dài 3.448 câu thơ, trong đó, phê phán âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ thù, lên án những người thờ ơ trước cảnh nước mất nhà tan. Khi ba tỉnh miền Đông lần lượt rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu và gia quyến lại rời Cần Giuộc về “tị địa” tại Ba Tri và sống ở đây cho đến cuối đời. Tại đây, Nguyễn Đình Chiểu tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho người dân, sáng tác thơ văn phê phán sự nhu nhược của triều đình và bọn quan lại bất tài, sự xấu xa của bọn nho sĩ đầu hàng và thường xuyên liên hệ với Trương Định và một số sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Huỳnh Mẫn Đạt... Trương Định rất mến phục ông, thường gửi thư hỏi ý kiến về việc dân việc nước. Khi Trương Định hy sinh, Nguyễn Đình Chiểu đã viết văn tế và 12 bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng.
     Năm 1867, giặc Pháp chiếm đóng luôn ba tỉnh miền Tây Nam Bộ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên), Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử. Phong trào kháng chiến chống Pháp của Phan Liêm - Phan Tôn ở Bến Tre, của Nguyễn Hữu Huân ở Mỹ Tho, Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá…nổ ra nhưng cuối cùng cũng bị giặc Pháp đàn áp tan rã. Năm 1873, thành Hà Nội thất thủ lần thứ nhất. Nguyễn Tri Phương trúng đạn rồi tuyệt thực chết. Năm 1882 Hà Nội thất thủ lần thứ hai, Hoàng Diệu tuẫn tiết. Năm 1885, giặc Pháp chiếm kinh thành Huế, vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị xuống chiếu kêu gọi Cần Vương. Năm 1888, Hàm Nghi bị bắt và bị đày đi An-giê-ri. Niềm hy vọng của mọi người và của Nguyễn Đình Chiểu về công cuộc chống Pháp giữ gìn đất nước đến đây đành tắt hẳn.
     Lịch sử đau thương nhưng oanh liệt của dân tộc, tấm gương hy sinh anh dũng của những anh hùng liệt sĩ đã tác động mạnh đến tâm trạng của Nguyễn Đình Chiểu. Ông đã sáng tác nhiều thơ văn bi tráng, nổi bật là tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh”, “Ngư tiều y thuật vấn đáp” với những câu thơ thống thiết, làm rung động lòng người, thể hiện tâm hồn và ý chí thương dân, yêu nước, khí phách kiên trung bất khuất của chính bản thân tác giả. Năm 1886, vợ ông mất. Đau buồn vì nước mất, nhà tan, Nguyễn Đình Chiểu lâm bệnh nặng. Trong những ngày cuối cùng, nhà thơ sống trong cảnh nghèo nàn thanh bạch với sự yêu thương đùm bọc của nhân dân. Ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý, (tức là ngày 03-7-1888), Nguyễn Đình Chiểu qua đời trong một căn nhà nhỏ tại làng An Bình Đông (gần chợ Ba Tri, thuộc Trị trấn Ba Tri ngày nay), thọ 66 tuổi. Nhân dân, bạn bè, học trò và con cháu đưa đám tang ông rất đông, khăn tang trắng cả cánh đồng An Đức nơi ông yên nghỉ cuối cùng cách chợ Ba Tri khoảng một cây số.
     Từ khi Nguyễn Đình Chiểu mất cho đến nay, hàng năm, đến ngày giỗ ông, nhân dân trong vùng Ba Tri và nhân sĩ trí thức có tinh thần yêu nước ở khắp nơi đều tổ chức lễ tưởng niệm ông, một con người tiêu biểu cho lòng yêu nước và đạo lý làm người, cuộc đời tuy chịu nhiều đau khổ nhưng tiết tháo rất thanh cao, khẳng khái.
     Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với vận mệnh của đất nước và nhân dân trong cả một giai đoạn lịch sử bi tráng của dân tộc. Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu phản ánh trung thành biến cố của cả một thời đại, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân ta trong nửa cuối thế kỷ 19. Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn của dân tộc, xứng đáng là ngọn cờ đầu của dòng văn học yêu nước Việt Nam cận đại.
   

TƯỢNG ĐÀI CỤ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU - MỸ THO

    
 Hình tuy mất nhưng văn chưa mất. Cụ còn lưu lại cho đời một văn nghiệp vĩ đại gồm ba tác phẩm Nôm trường thiên : 

 -Lục Vân tiên ( sáng tác đầu tiên dài 2082 câu )
 -Dương Từ -Hà Mậu
 -Ngư Tiều vấn đáp y thuật    

   

NHỮNG TÁC PHẨM NỔI TIẾNG CỦA CỤ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

 Cùng rất nhiều thơ văn yêu nước chống Pháp : Chạy giặc, Điếu Phan Tòng, Điếu Trương Định, Điếu Phan Thanh Giản, Tự thuật,  Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Thảo thử  hịch, Hoàng trùng trập khởi… Nguyễn Đình Chiểu là người chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước nhà và “sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng nêu cao địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng” (Phạm Văn Đồng)

KHU LĂNG MỘ CỤ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TẠI BA TRI - BẾN TRE

 

MỘ PHẦN CỤ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU CÙNG PHU NHÂN