Truong THPT Nguyen Dinh Chieu - My Tho - Tien Giang
Hình ảnh ngôi trường
Đơn vị cá nhân tài trợ
Hình ảnh nổi bật
Địa chỉ liên kết
Thống kê
» Hôm nay: 1037
» Tổng lượt truy cập: 3132521
» Tổng số bài viết: 2944
» Tổng số video clip: 388
Công đoàn

BỘ TƯ PHÁP                                                              BỘ Y TẾ
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT                   VỤ BẢO HIỂM Y TẾ

 

 

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế

     Ngày 13/6/2014, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13 (sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi, bổ sung). Chủ tịch nước ký Lệnh số 03/2014/L-CTN ngày 26/6/2014 công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015.
     I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ
Ngày 14 tháng 11 năm 2008, Luật bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2009.
Luật bảo hiểm y tế (BHYT) được ban hành đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hệ thống pháp luật về BHYT, là cơ sở pháp lý cao nhất để thể chế hoá quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển BHYT toàn dân. Sau 3 năm triển khai thực hiện, Luật BHYT đã thực sự đi vào cuộc sống, khẳng định tính đúng đắn, tính phù hợp trong việc lựa chọn chính sách tài chính y tế thông qua BHYT - một trong những chính sách an sinh xã hội, nhân đạo, ưu việt của Đảng và Nhà nước ta và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:
- Công tác quản lý nhà nước về BHYT ngày càng được tăng cường, công tác tuyên truyền về BHYT đã đi vào chiều sâu, đổi mới về hình thức và đã huy động được sự tham gia, vào cuộc của cả hệ thống chính trị.
- Đến ngày 31 tháng 12 năm 2012, tổng số người tham gia BHYT là 59,3 triệu, tăng 9 triệu người so với năm 2009, đạt tỷ lệ bao phủ 67% dân số. Quyền lợi của người tham gia BHYT được mở rộng và bảo đảm, công tác tổ chức khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT đã được cải thiện đáng kể về quy trình, thủ tục trong khám bệnh, chữa bệnh. Người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội, người có công, trẻ em dưới 6 tuổi đã được quan tâm trong tiếp cận, trong thụ hưởng các dịch vụ y tế theo quy định của Luật.
- Quyền lợi của người tham gia BHYT được bảo đảm và thực hiện đúng quy định. Việc mở rộng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT, nhất là việc tổ chức khám bệnh, chữa bệnh BHYT tại tuyến xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia BHYT trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế ngay từ tuyến y tế cơ sở. Cùng với việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, việc triển khai các phương thức thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT mới đã góp phần giúp các bệnh viện chủ động trong điều hành kinh phí, nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan trong việc quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí BHYT.
- Từ năm 2010 - 2012 quỹ BHYT tiếp tục cân đối thu chi và có kết dư, góp phần tạo ra nguồn tài chính ổn định cho công tác khám bệnh, chữa bệnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc do thực tế nảy sinh, do một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn cần phải được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung,cụ thể như sau:
Thứ nhất, về đối tượng, hình thức tham gia bảo hiểm y tế
- Khoản 1 Điều 2 của Luật quy định các đối tượng “có trách nhiệm” tham gia BHYT nhưng sau 3 năm thực hiện Luật, tỷ lệ tham gia BHYT chưa đầy đủ, tính tuân thủ pháp luật về BHYT chưa cao nên cần phải quy định rõ trong Luật việc bắt buộc phải tham gia BHYT để thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân.
- Luật quy định 25 đối tượng chủ yếu tham gia BHYT theo hình thức cá nhân do nhiều cơ quan quản lý, lập danh sách cấp thẻ BHYT dẫn đến tình trạng cấp trùng thẻ BHYT; tình trạng “lựa chọn ngược”, chỉ những người bị bệnh mới tham gia BHYT, không phù hợp với ý nghĩa chia sẻ rủi ro của BHYT, ảnh hưởng đến tính bền vững của quỹ BHYT.
- Lực lượng công an thuộc đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT theo quy định của Luật BHYT nhưng đến nay vẫn chưa tham gia BHYT.
Thứ hai, về phạm vi quyền lợi và mức hưởng bảo hiểm y tế
- Việc quy định mức cùng chi trả 5% đối với một số nhóm đối tượng như người nghèo, người dân tộc thiểu số, người thuộc diện bảo trợ xã hội và 20% đối với thân nhân người có công, người thuộc hộ cận nghèo tại Điều 22 đã hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và khả năng chi trả của người bệnh, nhất là những người mắc các bệnh nặng, bệnh mạn tính (chạy thận nhân tạo chu kỳ, ung thư, bệnh nội tiết, phẫu thuật tim mạch…) do không có khả năng chi trả cũng như tính phức tạp trong việc tổ chức thực hiện.
- Một số dịch vụ không thuộc phạm vi thanh toán BHYT quy định tại Điều 23 còn chưa hợp lý như: quỹ BHYT không thanh toán đối với trẻ em bị cận thị, tật khúc xạ của mắt nặng cần can thiệp, điều trị; một số quy định rất khó thực hiện trong thực tế như quy định về thanh toán BHYT đối với tai nạn giao thông do thủ tục, thời gian xác định có vi phạm pháp luật hay không nên ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tham gia BHYT.
- Việc quy định cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh không có giới hạn đã làm hạn chế việc tiếp cận dịch vụ của các trường hợp mắc bệnh phải điều trị có chi phí khám bệnh, chữa bệnh lớn (ung thư, chạy thận nhân tạo…).
- Việc quy định quỹ BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT trực tiếp cho người có thẻ BHYT trong các trường hợp khám bệnh, chữa bệnh trái tuyến, vượt tuyến đã gây khó khăn cho cơ quan Bảo hiểm xã hội, bệnh viện và cả người bệnh.
Thứ ba, về tạm ứng, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
- Các quy định về thời gian, thời điểm trong việc tạm ứng, thanh quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh giữa Tổ chức BHYT với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại Điều 32 của Luật BHYT chưa hợp lý, chưa cụ thể đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và quyền lợi của người bệnh.
- Quy định tạm ứng trên cơ sở “chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT thực tế của quý trước đã được quyết toán” chưa rõ là quý trước liền kề hay quý đã được quyết toán gần nhất, dẫn đến tình trạng chậm tạm ứng, chậm thanh, quyết toán năm và thông báo kết quả thẩm định chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT như¬ hiện nay (tháng 10 năm sau mới thông báo quyết toán của năm trước) ảnh hưởng đến hoạt động của các bệnh viện, nhất là đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có vượt quỹ.
Thứ tư, về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế
Khoản 2 Điều 35 quy định phân cấp quản lý quỹ BHYT cho các địa phương chưa rõ ràng, chưa gắn trách nhiệm của địa phương trong quản lý và sử dụng quỹ BHYT, chưa quy định cụ thể thứ tự ưu tiên trong việc trích lập quỹ dự phòng và phân bổ, sử dụng phần kết dư quỹ BHYT của các địa phương nên trong 3 năm 2010-2012 chưa xử lý được phần kết dư theo quy định của Luật.
Thứ năm, về quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế
Luật BHYT hiện hành quy định Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về BHYT tại địa phương, nhưng trên thực tế, Ủy ban nhân dân các cấp, nhất là cấp huyện và xã chưa rõ trách nhiệm trong việc rà soát, quản lý đối tượng tham gia BHYT trên địa bàn dẫn tới tình trạng cấp trùng thẻ hoặc bỏ sót đối tượng. Một số địa phương chưa thực sự quan tâm chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về BHYT, chỉ đạo phát triển BHYT và thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân.
Thứ sáu, một số nội dung khác phát sinh từ thực tiễn đòi hỏi cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Những khó khăn, vướng mắc trên đây cho thấy tính cấp thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT.
      II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT được xây dựng trên cơ sở bốn quan điểm chỉ đạo sau đây:
1. Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về phát triển BHYT toàn dân đã được định h¬ướng của Nghị quyết Đại hội Đảng XI, Nghị quyết số 15–NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020; Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, BHYT giai đoạn 2012 - 2020; Quyết định số 538/QĐ/TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012 -2015 và 2020.
2. Khắc phục đ¬ược các tồn tại, bất hợp lý sau 3 năm thực hiện Luật để từng bước thực hiện lộ trình BHYT toàn dân, bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT.
3. Đổi mới chính sách, pháp luật về BHYT trên cơ sở có kế thừa chọn lọc những quy định hiện hành về chính sách BHYT đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta.
4. Phù hợp với các quy định tại các luật có liên quan như Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng… để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, bảo đảm lồng ghép giới trong Dự án Luật.
      III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Phạm vi điều chỉnh, bố cục của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT vẫn giữ nguyên như Luật BHYT hiện hành, không bổ sung thêm chương, điều mới.
Luật sửa đổi, bổ sung 28/52 điều từ Chương I đến Chương IX, trong đó tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung liên quan đến: Sắp xếp lại nhóm đối tượng; hình thức tham gia BHYT theo hộ gia đình; thẻ BHYT; mức hưởng BHYT; tạm ứng, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT; quản lý và sử dụng quỹ BHYT, trách nhiệm của các bên liên quan đến BHYT.
Tiếp tục khẳng định chính sách BHYT toàn dân, quy định BHYT là bảo hiểm bắt buộc và khuyến khích việc thực hiện BHYT theo hộ gia đình, đây là những quy định quan trọng nhằm thúc đẩy thực hiện lộ trình BHYT toàn dân. Một số điểm mới được sửa đổi, bổ sung so với Luật hiện hành như sau:
1. Sửa đổi Điều 2, 3, 6, 7 và Điều 8 Chương I: Những quy định chung
a) Về giải thích từ ngữ (Điều 2)
- Sửa đổi quy định các đối tượng “có trách nhiệm tham gia BHYT” thành “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”.
Luật BHYT hiện hành đang quy định các đối tượng có “trách nhiệm” tham gia BHYT nhưng trên thực tế việc tuân thủ pháp luật của các đối tượng này chưa cao, đến hết năm 2012, trong số đối tượng “có trách nhiệm” tham gia BHYT vẫn còn khoảng 45% người lao động trong các doanh nghiệp (70% lao động trong doanh nghiệp tư nhân), gần 70% người thuộc hộ cận nghèo, 20% học sinh, sinh viên chưa tham gia BHYT. Để thực hiện được mục tiêu này thì cần phải quy định bắt buộc tham gia đối với tất cả các đối tượng. Nếu không quy định bắt buộc thì sẽ có nhiều nhóm đối tượng, nhất là các đối tượng khỏe mạnh, có thu nhập cao sẽ không tham gia và như vậy không giải quyết được tình trạng “lựa chọn ngược” chỉ có người ốm mới tham gia BHYT, gây nguy cơ mất cân đối quỹ BHYT, ảnh hưởng đến tính bền vững của BHYT.
Đây là một trong những giải pháp đột phá hết sức quan trọng thể hiện quyết tâm chính trị nhằm khẳng định mọi đối tượng bắt buộc phải tham gia BHYT, nhằm thúc đẩy thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị. Để bắt buộc tham gia BHYT, Nhà nước sử dụng cơ chế hỗ trợ ngân sách trực tiếp cho một bộ phận người dân tham gia BHYT, cũng như cơ chế chính sách về giá dịch vụ y tế để thúc đẩy toàn dân tham gia BHYT.
- Bổ sung khái niệm “Hộ gia đình tham gia BHYT là bao gồm toàn bộ người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú” để thực hiện hình thức tham gia BHYT theo hộ gia đình với một số nhóm đối tượng. Quy định này giúp cho việc đăng ký, quản lý các nhóm đối tượng thống nhất, không bỏ sót và tránh được cấp trùng thẻ BHYT, hạn chế tình trạng chỉ có người ốm mới tham gia BHYT và bảo đảm sự chia sẻ ngay trong hộ gia đình.
- Bổ sung khái niệm Gói dịch vụ y tế cơ bản do quỹ bảo hiểm y tế chi trả là những dịch vụ y tế thiết yếu để chăm sóc sức khỏe, phù hợp với khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế.
b) Sửa đổi quy định mức đóng BHYT theo “mức lương tối thiểu của khu vực hành chính (gọi chung là mức lương tối thiểu)” thành “mức lương cơ sở” và bổ sung quy định mức hưởng BHYT được xác định theo thời gian tham gia BHYT để khuyến khích người dân tham gia BHYT liên tục (Điều 3).
c) Bổ sung trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan và Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc tổ chức thực hiện Luật (Điều 6, 7):
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo: Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện việc xác định, quản lý đối tượng; Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật về trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế của các đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý
- Bộ Quốc phòng và Bộ Công an: (1) Chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc xác định, quản lý, lập danh sách bảo hiểm y tế đối với đối tượng do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý (2) Lập danh sách và cung cấp danh sách đề nghị cấp thẻ bảo hiểm y tế đối với đối tượng thân nhân; (3) Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật về trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế của các đối tượng do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý; (4) Phối hợp với Bộ Y tế, các bộ, ngành liên quan hướng dẫn các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an ký kết hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế với tổ chức bảo hiểm y tế để khám bệnh, chữa bệnh cho các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng bộ máy, nhân lực, nguồn lực để thực hiện chức năng tham mưu quản lý nhà nước về BHYT trên địa bàn; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lập danh sách đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình trên địa bàn để thống nhất quản lý, tránh trùng thẻ BHYT.
2. Sửa đổi Điều 12, 13, 14 và Điều 15 Chương II: Đối tượng, mức đóng, trách nhiệm và phương thức đóng bảo hiểm y tế
a) Về đối tượng tham gia bảo hiểm y tế (Điều 12)
- Để thuận lợi trong quản lý và tổ chức thực hiện, Luật sửa đổi bổ sung đã sắp xếp lại 25 đối tượng quy định tại Điều 12 của Luật hiện hành thành 5 nhóm theo trách nhiệm đóng BHYT như sau: (1) Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng (2) Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng; (3) Nhóm do ngân sách nhà nước đóng; (4) Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng; (5) Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình gồm những người thuộc hộ gia đình, trừ đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 nêu trên.
- Gộp các đối tượng: Người làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp (khoản 22); Thân nhân người lao động (khoản 23) và Xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể (khoản 24) của Điều 12 Luật BHYT hiện hành thành 01 nhóm đối tượng “Người tham gia BHYT theo hộ gia đình” thuộc nhóm tự đóng BHYT và cùng tham gia BHYT theo hình thức hộ gia đình.
- Bổ sung một số nhóm đối tượng được tổ chức bảo hiểm xã hội đóng BHYT đó là người mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày, người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng;
- Bổ sung một số nhóm đối tượng được ngân sách nhà nước đóng BHYT đó là: người đang tại ngũ trong quân đội; thân nhân của học viên công an và học viên cơ yếu; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo.
- Bổ sung đối tượng tham gia BHYT đã được quy định tham gia BHYT tại các văn bản khác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bao gồm: người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; người đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Pháp; người tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia giúp nước bạn Lào sau 30/4/1975 đã xuất ngũ phục viên.
- Bổ sung đối tượng thuộc lực lượng công an và quân đội cùng tham gia hệ thống BHYT. Đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể: Việc cấp thẻ bảo hiểm y tế; lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế, phạm vi quyền lợi, mức hưởng bảo hiểm y tế, khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, quản lý, sử dụng phần kinh phí dành cho khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, giám định bảo hiểm y tế, thanh toán, quyết toán bảo hiểm y tế đối với các đối tượng do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.
b) Về mức đóng, trách nhiệm và phương thức đóng bảo hiểm y tế (Điều 13 và Điều 15).
- Bổ sung trách nhiệm đóng BHYT của quỹ BHXH đối với người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con hoặc nuôi con dưới 6 tháng tuổi, người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Sửa đổi, bổ sung quy định giảm dần mức đóng BHYT khi toàn bộ các thành viên trong hộ gia đình tham gia BHYT , cụ thể:
+ Người thứ nhất đóng bằng mức quy định; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất;
+ Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất.
- Bổ sung quy định phương thức đóng BHYT theo hộ gia đình để dễ quản lý, tránh trùng lắp đối tượng, tránh bỏ sót đối tượng và mở rộng đối tượng tham gia BHYT.
3. Sửa đổi Điều 16, 17, 18 và Điều 20 Chương III: Thẻ bảo hiểm y tế
a) Bổ sung quy định thời hạn sử dụng Thẻ bảo hiểm y tế đối với trẻ em dưới 6 tuổi: Trường hợp trẻ đủ 72 tháng tuổi mà chưa đến kỳ nhập học thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng đến ngày 30 tháng 9 của năm đó để khắc phục tình trạng Trẻ em không có thẻ BHYT trong giai đoạn chưa đi học. Giao Tổ chức bảo hiểm y tế ban hành mẫu thẻ bảo hiểm y tế sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Y tế.
b) Quy định trách nhiệm lập danh sách cấp thẻ bảo hiểm y tế: Để gắn trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã, của tổ chức BHYT trong thực hiện BHYT và trách nhiệm tham gia BHYT của hộ gia đình trong việc kê khai, lập danh sách, rà soát các đối tượng để tránh tình trạng trùng thẻ, bỏ sót đối tượng, Luật quy định cụ thể trách nhiệm lập danh sách để cấp thẻ bảo hiểm y tế như sau:
- Người sử dụng lao động lập danh sách người lao động
- Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách của các đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình.
- Cơ sở giáo dục và đào tạo, cơ sở dạy nghề lập danh sách Học sinh sinh viên do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quản lý
- Bộ Quốc phòng và Bộ Công an lập danh sách các đối tượng do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý
c) Để không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHYT, khoản 3 Điều 18 quy định: “Trong thời gian chờ cấp lại thẻ, người tham gia bảo hiểm y tế vẫn được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế”.
4. Sửa đổi Điều 21, 22 và Điều 23 Chương IV: Phạm vi, mức hưởng bảo hiểm y tế
Luật sửa đổi bổ sung lần này quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi của người tham gia BHYT: Mở rộng phạm vi quyền lợi BHYT và điều chỉnh mức hưởng bảo hiểm y tế nhằm giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế đối với một số đối tượng chính sách:
a) Mở rộng quyền lợi về bảo hiểm y tế
- Bổ sung quyền lợi trong điều trị lác, cận thị và tật khúc xạ của mắt đối với trẻ em dưới 6 tuổi.
- Bổ sung quy định quỹ BHYT thanh toán trong các trường hợp tự tử, tự gây thương tích, tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho phù hợp với Bộ Luật Lao động.
- Sửa đổi quy định đối tượng được thanh toán chi phí vận chuyển thống nhất với đối tượng được hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT, bao gồm: Người có công với cách mạng; trẻ em dưới 6 tuổi; người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng; Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo.
b) Bỏ quy định cùng chi trả; nâng mức hưởng bảo hiểm y tế
- Bỏ quy định cùng chi trả 5% đối với người nghèo, bảo trợ xã hội, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
- Bỏ quy định cùng chi trả 20% đối với thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ, người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;
- Giảm mức cùng chi trả từ 20% xuống còn 5% với thân nhân khác của người có công và người thuộc hộ gia đình cận nghèo.
- Quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh đối với Người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo.
- Quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia BHYT 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở.
c) Bổ sung quy định cụ thể mức hưởng BHYT trong trường hợp người có thẻ bảo hiểm y tế tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến và được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo mức hưởng quy định với tỷ lệ như sau:
- Tại bệnh viện tuyến trung ương là 40% chi phí điều trị nội trú;
- Tại bệnh viện tuyến tỉnh là 60% chi phí điều trị nội trú từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2020; 100% chi phí điều trị nội trú từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 trong phạm vi cả nước;
- Tại bệnh viện tuyến huyện là 70% chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2015; 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.
d) Về chuyển tuyến khám chữa bệnh và thanh toán khám chữa bệnh bảo hiểm y tế
Theo quy định hiện hành, người tham gia BHYT có quyền đăng ký khám chữa bệnh BHYT ban đầu tại bất kỳ cơ sở khám chữa bệnh tuyến xã, huyện hoặc tương đương trong phạm vi cả nước. Trường hợp cấp cứu, người bệnh có thể đến bất kỳ cơ sở y tế nào để khám chữa bệnh và được quỹ BHYT chi trả; các trường hợp không phải cấp cứu thì sẽ theo tuyến chuyên môn kỹ thuật y tế và đều được quỹ BHYT thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo quyền lợi của người tham gia BHYT.
Để giảm bớt phiền hà khi chuyển tuyến theo cấp hành chính, cụ thể hóa khoản 1 Điều 38 của Hiến pháp là “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh”, Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến mở tuyến khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Khoản 4,5 và 6 Điều 22 Luật bảo hiểm y tế (sửa đổi), cụ thể:
- Từ ngày 01/01/2016, người tham gia bảo hiểm y tế đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện được quyền khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh và được quỹ BHYT thanh toán theo mức hưởng theo quy định của Luật.
- Người dân tộc thiểu số và người thuộc hộ gia đình nghèo tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với bệnh viện tuyến huyện, điều trị nội trú đối với bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương và có mức hưởng theo quy định tại khoản 1 Điều này.
- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, mở thông tuyến tỉnh trên toàn quốc và riêng đối với tuyến trung ương thì nâng mức hưởng lên 40% đối với trường hợp điều trị nội trú; tuyến tỉnh là 60% chi phí điều trị nội trú từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31/12/2020 và được hưởng 100% chi phí điều trị nội trú kể từ ngày 01/01/2021
Trên cơ sở này, vấn đề thông tuyến khám chữa bệnh như trên đang từng bước được cải thiện để phù hợp với nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, bước đi này nằm trong lộ trình tiến đến bảo đảm việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của người bệnh không theo tuyến như mong muốn của người dân khi tham gia BHYT.
5. Sửa đổi Điều 24 Chương V: Tổ chức khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT
Để thuận lợi trong tổ chức thực hiện, phù hợp và đồng bộ với Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật quy định: “Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là cơ sở y tế theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh có ký kết hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức bảo hiểm y tế.”
Theo đó, các hình thức tổ chức của cơ sở khám chữa bệnh kể cả cơ sở khám chữa bệnh nhà nước và tư nhân theo quy định của Điều 41 Luật Khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện đều được tổ chức khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
6. Sửa đổi Điều 30, 31 và Điều 32 Chương VI: Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
a) Bãi bỏ quy định tổ chức BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT trực tiếp cho người có thẻ BHYT trong trường hợp khám bệnh, chữa bệnh không đúng nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu, không đúng tuyến điều trị để hạn chế việc thanh toán trực tiếp nhằm giảm phiền hà cho người bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tổ chức bảo hiểm y tế, tiết kiệm cho bệnh viện thời gian tìm hồ sơ đã lưu trữ để cung cấp cho cơ quan bảo hiểm xã hội làm công tác giám định trong điều kiện nhân lực giám định còn thiếu.
Khoản 2 Điều 31 của Luật sửa đổi bổ sung quy định: Chỉ thanh toán trực tiếp trong các trường hợp:
- Tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế;
- Khám bệnh, chữa bệnh không có đủ thủ tục theo quy định ( Thẻ BHYT, Hồ sơ chuyển viện, giấy hẹn tái khám…)
- Một số trường hợp đặc biệt khác do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định
b) Bãi bỏ quy định thanh toán đối với trường hợp khám bệnh, chữa bệnh tại nước ngoài vì thực tế rất khó kiểm soát chi phí và không khuyến khích việc khám bệnh, chữa bệnh ở nước ngoài trong điều kiện quỹ BHYT còn hạn hẹp.
c) Bổ sung quy định Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc để tránh tình trạng giá dịch vụ y tế do nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau phê duyệt với nhiều mức giá khác nhau, thời điểm áp dụng khác nhau, kể cả bệnh viện cùng một hạng, trên cùng địa bàn gây mất công bằng cho người bệnh, bệnh viện và gây khó khăn cho tổ chức BHYT trong tổ chức thực hiện
d) Quy định chi tiết việc tạm ứng, thanh toán, quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (Điều 32).
- Sửa đổi quy định việc tạm ứng chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT dựa trên số chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT thực tế quý trước đã được “quyết toán” thành “báo cáo quyết toán quý trước của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gửi cho tổ chức BHYT” để tổ chức BHYT có căn cứ tạm ứng ngay, thay vì phải chờ đến khi có kết quả thẩm định, quyết toán của tổ chức BHYT như quy định hiện hành.
- Quy định chi tiết về thời điểm thanh toán, quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giảm thời gian thực hiện thanh toán, quyết toán quý từ 75 ngày xuống còn 55 ngày, cụ thể:
+ Trong thời hạn 15 ngày đầu mỗi tháng, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có trách nhiệm gửi bản tổng hợp đề nghị thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế của tháng trước cho tổ chức bảo hiểm y tế;
+ Trong thời hạn 15 ngày đầu mỗi quý, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có trách nhiệm gửi báo cáo quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế của quý trước cho tổ chức bảo hiểm y tế;
+ Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo quyết toán quý trước của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, tổ chức bảo hiểm y tế có trách nhiệm thông báo kết quả giám định và số quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế bao gồm chi phí khám bệnh, chữa bệnh thực tế trong phạm vi quyền lợi và mức hưởng bảo hiểm y tế cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
+ Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thông báo số quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, tổ chức bảo hiểm y tế phải hoàn thành việc thanh toán với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
+ Việc thẩm định quyết toán năm đối với quỹ bảo hiểm y tế và thanh toán số kinh phí chưa sử dụng hết (nếu có) đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải được thực hiện trước ngày 01 tháng 10 năm sau.
7. Sửa đổi Điều 34 và Điều 35 Chương VII: Quỹ bảo hiểm y tế
a) Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 và Khoản 3 Điều 34 như sau:
- Bổ sung quy định: “Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm quản lý quỹ bảo hiểm y tế và tư vấn chính sách bảo hiểm y tế”. Theo quy định này, Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội có chức năng: Xem xét, tư vấn quyết định những vấn đề lớn liên quan đến BHYT như: mức đóng BHYT, phạm vi quyền lợi, giá dịch vụ kỹ thuật, danh mục dịch vụ kỹ thuật, danh mục thuốc, vật tư y tế, cơ chế thanh toán chi phí khám, chữa bệnh giữa quỹ BHYT và cơ sở khám, chữa bệnh..... Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định ban hành chính sách trên cơ sở đề xuất và ý kiến thống nhất của Hội đồng.
- Hằng năm, Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế.
b) Về phân bổ và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế:
Luật vẫn thống nhất nguyên tắc Quỹ phải quản lý tập trung, thống nhất ở cấp quốc gia để tập trung nguồn lực, điều tiết chung trong phạm vi cả nước, đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu chia sẻ rủi ro giữa các đối tượng.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, do chưa có sự đồng đều về tỷ lệ tham gia BHYT và dịch vụ khám chữa bệnh giữa các tỉnh (có nơi đạt gần 100%, nhưng có tỉnh mới đạt 50-60% dân số tham gia BHYT, có tỉnh đầy đủ kỹ thuật y tế hiện đại nhưng có tỉnh còn thiếu nhiều trang thiết bị y tế, điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế của người dân nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; có nơi kết dư, có nơi còn bội chi quỹ BHYT) nên Luật quy định cho phép các tỉnh thành có kết dư quỹ BHYT được sử dụng một phần để phục vụ khám chữa bệnh BHYT hỗ trợ nâng cao quyền lợi người tham gia BHYT, để gắn trách nhiệm của các địa phương trong việc tổ chức thực hiện BHYT, khuyến khích các địa phương quản lý và sử dụng quỹ BHYT minh bạch, hiệu quả, thực hiện cụ thể như sau:
- Đối với các tỉnh, thành phố có phần kinh phí chưa sử dụng hết:
+ Từ ngày Luật này có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020 thì 80% chuyển về quỹ dự phòng, 20% chuyển về địa phương để sử dụng theo thứ tự ưu tiên sau đây:
Hỗ trợ quỹ khám bệnh, chữa bệnh cho người nghèo; hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế cho một số nhóm đối tượng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; mua trang thiết bị y tế phù hợp với năng lực, trình độ của cán bộ y tế; mua phương tiện vận chuyển người bệnh ở tuyến huyện.
Trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày Bảo hiểm xã hội Việt Nam thẩm định quyết toán, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải chuyển 20% phần kinh phí chưa sử dụng hết về cho địa phương.
Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày Bảo hiểm xã hội Việt Nam thẩm định quyết toán, phần kinh phí chưa sử dụng hết được chuyển về quỹ dự phòng để điều tiết chung.
+ Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, phần kinh phí chưa sử dụng hết không phân bổ cho các địa phương sử dụng mà được hạch toán to&

Tin liên quan